Các dịch vụ:
* Cáp quang Multimode: 0974.002.002

Cáp quang Multimode

Một hệ thống cáp quang bao gồm các thành phần sau:

- Máy phát: tạo ra các tín hiệu ánh sáng và mã hóa chúng phục vụ cho việc truyền tải.

- Sợi quang: phương tiện để truyền xung ánh sáng (tín hiệu).

- Bộ thu quang: nhận xung ánh sáng truyền (tín hiệu) và giải mã chúng.

- Bộ tái tạo quang: cần thiết cho việc truyền dữ liệu đường dài.
Cấu tạo của cáp quang là gì?

Cấu tạo cáp quang bao gồm dây dẫn trung tâm là sợi thủy tinh hoặc plastic đã được tinh chế nhằm cho phép truyền đi tối đa các tín hiệu ánh sáng. Sợi quang được tráng một lớp lót nhằm phản chiếu tốt các tín hiệu.
Cáp quang là gì? Cơ chế hoạt động và cấu tạo của cáp quang - Ảnh 1.

- Core: Trung tâm phản chiếu của sợi quang nơi ánh sáng đi qua

- Cladding: Vật chất quang bên ngoài bao bọc lõi, phản xạ ánh sáng trở lại vào lõi.

- Coating: Lớp phủ dẻo bên ngoài bảo vệ sợi không bị ẩm, không bị hỏng do môi trường.

- Srength member (tạm dịch: thành phần gia cường): là lớp chịu nhiệt, chịu kéo căng, thường làm từ các sợi tơ Aramit (Kevlar) kim loại có dạng sợi, hoặc lớp băng thép mỏng được dập gợn sóng thành hình sin.

- Jacket: Hàng trăm hay hàng ngàn sợi quang được đặt trong bó gọi là Cáp quang. Những bó này được bảo vệ bởi lớp phủ bên ngoài của cáp được gọi là jacket.

Cáp quang là gì? Bài viết sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu tổng quan về cáp quang, cũng như cấu tạo và ứng dụng của cáp quang trong công nghệ.

Công nghệ và kỹ thuật ngày càng hiện đại và tân tiến hơn, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của internet tốc độ cao, truyền hình TV HD… phục vụ nhu cầu làm việc, giải trí của con người. Từ đó mà nhu cầu về băng thông mạng cũng tăng theo, các thuật ngữ về cáp quang, mạng cáp quang, internet cáp quang, công nghệ truyền dẫn bằng cáp quang... xuất hiện phổ biến hơn.

Vậy cáp quang là gì? Bài viết đây chúng ta sẽ tìm hiểu tổng quan về cáp quang, cũng như cấu tạo và ứng dụng của cáp quang trong công nghệ.
Cáp quang là gì?

Sợi quang là công nghệ liên quan đến truyền dữ liệu (data transmission) bằng các xung ánh sáng, truyền trên một dây dài được Học bằng nhựa hoặc thủy tinh. Tín hiệu truyền đi trong cáp quang không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, truyền với tốc độ cao hơn và xa hơn.

Sợi quang không bị ảnh hưởng bởi vấn đề nhiễu điện từ. Cáp quang ứng dụng hiện tượng phản xạ ánh sáng. Các sợi được thiết để ánh sáng truyền dọc theo sợi quang đáp ứng yêu cầu về công suất và khoảng cách truyền. Sợi single mode được sử dụng để truyền đường dài, sợi multimode được sử dụng cho khoảng cách ngắn hơn. Lớp bọc bên ngoài của loại sợi này cần được bảo vệ tốt hơn so với dây kim loại.
Các loại cáp quang là gì?

Cáp quang Multimode


Dây cáp quang multimode (hay có tên gọi khác là cáp quang đa mode) là một trong hai loại dây cáp phổ biến của cáp quang (bên cạnh cáp quang Singlemode) được sử dụng hiện nay và đang dần thay thế các sản phẩm cáp đồng trong hệ thống mạng cần tốc độ cao hiện nay. Multimode graded index (chiết suất bước): phần lõi có chỉ số khúc xạ giảm dần từ trong ra ngoài trong lớp cladding, các tia ở gần trục truyền chậm hơn các tia gần cladding, các tia di chuyển theo đường cong thay vì zig-zag. Ở loại này, xung sẽ ít bị méo dạng hơn do các chùm tia tại điểm hội tụ.

Các loại cáp quang khác nhau phụ thuộc vào chỉ số khúc xạ, vật liệu được sử dụng và phương thức truyền ánh sáng.

- Phân loại dựa trên chỉ số khúc xạ:

Step Index: Loại này bao gồm một lõi được bao quanh bởi lớp bọc có chỉ số khúc xạ nhất định.

Graded Index: Chỉ số khúc xạ của sợi quang giảm khi khoảng cách xuyên tâm từ trục sợi tăng.

- Phân loại dựa trên các vật liệu được sử dụng:

Sợi quang nhựa: polymethyl methacrylate là chất liệu cốt lõi để truyền ánh sáng.

Sợi thủy tinh: loại này bao gồm các sợi thủy tinh cực kỳ mịn.

- Phân loại dựa trên chế độ truyền ánh sáng:

Single Mode: Những sợi này được sử dụng để truyền tín hiệu đường dài.

Multimode: Các sợi này được sử dụng để truyền tín hiệu khoảng cách ngắn.

- Phân loại dựa trên sự kết hợp của các loại trên:

Cơ chế hoạt động của cáp quang là gì?

Sợi quang hoạt động theo nguyên tắc phản xạ toàn phần (total internal reflection - TIR). Các tia sáng có thể được sử dụng để truyền một lượng dữ liệu khổng lồ. Các dây cáp quang được thiết kế sao cho chúng uốn cong tất cả các tia sáng vào bên trong (sử dụng TIR). Các tia sáng được truyền đi liên tục, bật ra khỏi các bức tường sợi quang và truyền dữ liệu từ điểm đầu đến điểm cuối. Cho dù tín hiệu ánh sáng cũng có khả năng bị suy giảm đi bởi khoảng cách (tùy thuộc vào độ tinh khiết của vật liệu được sử dụng), nhưng nó vẫn truyền tín hiệu tốt hơn so với cáp kim loại.

Phân biệt cáp sợi quang ống đệm chặt và cáp quang ống đệm lỏng

Ống đệm bảo vệ là một trong các thành phần cấu tạo cơ bản của sợi quang, được chia làm hai loại chính là ống đệm chặt (tigh buffer) và ống đệm lỏng (loose tube). Mỗi loại sở hữu những đặc điểm nổi trội riêng phù hợp cho những môi trường khác nhau.

Ống đệm chặt

Ống đệm chặt là một lớp chất dẻo, bao bọc luôn cả lớp bảo vệ (coating). Trong thiết kế ống đệm chặt, coating là một lớp chất dẻo mềm cung cấp độ bền, dẻo dai và giảm ngoại lực tác động lên sợi quang. Ống đệm bên ngoài cứng hơn, giúp tăng cường khả năng bảo vệ vật lý.

Ống đệm chặt đảm bảo cố định sợi quang, giúp người thi công dễ dàng tiến hành bấm đầu cáp. có cùng số lượng sợi quang, cáp quang sử dụng ống đệm chặt sẽ có kích thước nhỏ hơn so với cáp quang sử dụng ống đệm lỏng. Tuy nhiên, ưu điểm này sẽ không còn khi số lượng sợi quang tăng lên, vì ống đệm lỏng cho phép chứa nhiều sợi quang bên trong một ống đệm hơn (tối đa 12 sợi quang).

Ưu điểm chính của cáp quang sử dụng ống đệm chặt là phù hợp cho môi trường trong nhà do chất liệu cấu thành nó đều đáp ứng các yêu cầu về an toàn điện, hỏa hoạn. Ngoài ra, dù có suy hao nhiều hơn so với ống đệm lỏng, nhưng ở khoảng cách ngắn như môi trường trong nhà thì cáp quang sử dụng ống đệm chặt vẫn đáp ứng tốt.

Ống đệm lỏng

Ống đệm lỏng có cấu trúc là ống trụ tròn dài Học bằng chất dẻo, với đường kính mặt trong có kích thước lớn hơn đường kính sợi quang. Sợi quang được đặt trong một cấu trúc xoắn lỏng (loose helix) nên có thể di chuyển tự do trong ống. Thiết kế này bảo vệ sợi quang khỏi áp lực tác động lên cấu trúc cáp trong quá trình thi công, bao gồm những ảnh hưởng do thay đổi nhiệt độ môi trường – nguyên nhân chính gây suy hao tại điểm uốn cong cáp hoặc gây hư hỏng cáp.

Có nhiều phương pháp triển khai ống đệm lỏng: các sợi quang có thể đặt trong cùng một ống, hoặc đặt riêng từng ống hoặc nhóm lại thành một hoặc nhiều hàng (ribbon). Thông thường, mỗi ống đệm lỏng sẽ chứa tối đa 12 sợi quang, sợi quang đặt trong ống và ống sẽ tuân theo chuẩn mã màu.

Cáp quang Multimode

Bên trong các ống đệm lỏng lấp đầy hợp chất chống thấm nước. Nếu có nhiều ống đệm lỏng thì giữa chúng sẽ được bao phủ một lớp gel bôi trơn.

Cáp có cấu trúc ống đệm lỏng thích hợp cho môi trường ngoài trời, có thể triển khai thi công ở nhiều vị trí như đi treo, đi chôn trong ống hoặc chôn trực tiếp dưới đất.

Tại Việt Nam, các kết nối Internet quốc tế hiện tại, cũng tương tự nhiều nước khác trên thế giới, chủ yếu phụ thuộc vào các đường cáp quang biển. Các tuyến cáp chính bao gồm tuyến AAG (Asia-America Gateway), TVH (Thái Lan – Việt Nam – Hongkong) và SMW3 (hay còn gọi là SEA-ME-WE3). Trong các tuyến cáp quang biển này, trừ đường SMW3 đi theo chiều kết nối từ Châu Á sang Ấn Độ, vào Châu Âu, các tuyến còn lại đi theo hướng sang Châu Mỹ qua đảo Guam và Hawaii.

Cho đến ngày 8/3, các đường cáp này đều từng gặp sự cố, gây ảnh hưởng đến kết nối Internet giữa Việt Nam và thế giới. Trong đó, tuyến SMW3 tuy gặp một số sự cố như đứt đường truyền tại Pakistan, đứt cáp trong vụ động đất ngày 26/12/2006… nhưng hầu như chưa trực tiếp ảnh hưởng đến việc truyền dẫn dữ liệu với Việt Nam. Tuyến TVH vào tháng 3/2007 đã bị cắt trộm 11 km cáp cùng một số thiết bị đi cùng tại vùng biển Cà Mau. Việc đứt cáp TVH vào thời điểm đó đã gây ảnh hưởng cực kì nghiêm trọng đến việc truyền dẫn tín hiệu Internet quốc tế với Việt Nam do phải phụ thuộc vào tuyến SMW3 duy nhất còn lại. Điều đáng buồn là 11 km cáp quang này (vào khoảng 100 tấn, trị giá khoảng 6,8 triệu USD) sau đó được phát hiện bị đem bán với giá phế liệu. Tại thời điểm hiện tại, sự cố với đường cáp AAG tuy chưa được các nhà chức trách xác nhận nhưng nhiều người tin rằng có nguyên nhân do con người hơn là nguyên nhân tự nhiên. Bên cạnh đó, cần biết rằng sự cố với đường cáp quang biển thiệt hại không chỉ là đoạn cáp bị mất hoặc đứt gãy mà việc lắp đặt lại, thay mới thiết bị đi kèm là tổn thất rất đáng kể.

Dù với lí do khách quan hay chủ quan, rõ ràng đã đến lúc phải nhìn nhận lại về vấn đề kết nối thông tin toàn cầu vì việc đứt cáp quang biển không phải là vấn đề riêng tại Việt Nam khi mà bảo vệ đường cáp trên biển không phải là chuyện dễ dàng. Tuy nhiên, có lẽ cho đến khi có một giải pháp khả thi hơn, người dùng vẫn chỉ biết cầu mong không có thêm sự cố nào xảy đến với hai đường cáp còn lại cũng như đường cáp AAG sớm được phục hồi.

Gần tuy việc kết nối qua vệ tinh đã được triển khai tại nhiều vùng và thử nghiệm trên diện rộng tại một số quốc gia, cáp quang biển vẫn giữ vai trò trọng yếu trong kết nối thông tin toàn cầu. Đến năm 2006, các liên lạc qua vệ tinh vẫn chỉ chiếm khoảng 1% lưu lượng thông tin quốc tế toàn cầu. Điều này cũng không lạ khi cho đến thời điểm hiện tại, lưu lượng truyền tải của các đường cáp quang có thể đạt đến hàng terabit/giây trong khi chỉ vào hàng megabit/giây với độ trễ cao hơn rất nhiều trên đường truyền vệ tinh. Thực tế cho thấy sự phụ thuộc vào các đường cáp quang quốc tế là vô cùng to lớn và bất kì sự cố nào ảnh hưởng đến các tuyến cáp xuyên biển cũng sẽ gây những hậu quả nghiêm trọng. Vì thế, để đảm bảo an toàn, thông suốt trong các kết nối thông tin, một quốc gia thường có nhiều tuyến cáp liên kết với các cổng Internet thế giới.

Đường dây cáp hiện nay mỏng hơn nhiều – khoảng 3 inch. Tại điểm sâu nhất ở rãnh Nhật Bản, cáp quang đi sâu tới 8,000m trong đại dương. Đó cũng là chiều cao của núi Everest.

Vỏ bao gồm (theo thứ tự 1 – 8): Polyethylene, băng Mylar, dây kim loại (thép), chắn nước bằng nhôm, Polycarbonate, đồng hoặc nhôm ống, thạch dầu khí (giúp bảo vệ cáp khỏi nước), sợi quang học.

Cáp quang biển có nhiều ưu điểm như vậy nhưng khi lắp đặt hệ thống cáp quang biển gặp một số vấn đề khó khăn như: Chi phí cao và kết nối khó khăn. Trước hết, do đặc tính cấu tạo, giá thành bản thân cáp quang cùng các thiết bị đi kèm đã cao. Tiếp đến, do kết nối xuyên lục địa qua các đại dương, việc lắp đặt luôn chứa đựng nhiều vấn đề khó khăn, từ tìm kiếm khu vực đáy biển phù hợp cho đến tránh kết nối vào lúc thời tiết xấu. Ngoài ra, do chính đặc tính truyền dẫn ánh sáng, dây cáp cần được kéo thẳng, tránh bị gấp khúc hay gặp phải vật cản.

Nhờ vào những khoản đầu tư khổng lồ từ những công ty đang tìm kiếm để khai thác, hệ thống cáp quang dưới biển hiện nay đã trở thành những đường dây thương mại hiện đại bậc nhất.

Patch Panel 24 port Cat5e



Ví dụ như hãng công nghệ khổng lồ như Google đã đầu tư tới 300 triệu USD vào hệ thống cáp xuyên Thái Bình Dương để di chuyển dữ liệu nhanh hơn. Hay ngay cả Facebook cũng đầu tư rất nhiều tiền của vào hệ thống cáp quang ở Châu Á.

Không có nhiều thay đổi trong những năm qua. Các tàu trở cáp di chuyển dọc theo đại dương rồi từ từ tháo cáp để chúng chìm xuống đáy biển. SS Great Eastern là công ty đầu tiên thành công đặt một dây cáp quang xuyên Thái Bình Dương vào năm 1866. Lúc đó, cáp quang được sử dụng để truyền tải thông tin điện báo. Từ năm 1956, đường dây này bắt đầu truyền tải các tín hiệu điện thoại.

Cáp quang ra đời vào năm 1966 và được các công ty viễn thông triển khai sử dụng vào cuối những năm 1970. Tuy nhiên, chỉ đến thập niên 90 của thế kỉ XX, Internet mới thực sự khiến công nghệ cáp quang bùng nổ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁP QUANG BIỂN

Hệ thống cáp quang dưới biển thường được ưa chuộng hơn truyền hình vệ tinh vì tốc độ và độ tin cậy của hệ thống này khá cao, hiếm khi bị hỏng. Nhờ vào tốc độ cao, loại cáp quang này luôn có thể cung cấp và hỗ trợ các đường dây dự phòng có sẵn.

Cáp quang biển được dùng để chỉ các cáp viễn thông có lõi bằng sợi thủy tinh hoặc nhựa, và sử dụng ánh sáng để truyền dẫn tín hiệu (cáp quang) được đặt dưới đáy biển. Ngày nay, cáp quang biển là cầu nối viễn thông, Internet giữa tất cả các châu lục toàn cầu (trừ vùng Nam Cực). Sợi cáp quang biển điển hình có đường kính 69 mm, nặng khoảng 10 kg/m (một số loại cáp mỏng và có khối lượng nhẹ hơn có thể được dùng tại các khu vực đáy biển sâu).

Mỗi sợi cáp quang biển được kết thành từ bó rất nhiều sợi cáp quang với lớp vỏ bảo vệ nhiều lớp để đảm bảo độ an toàn cho cáp trong môi trường đáy biển khắc nghiệt như: Nhựa PE, thép, nhôm, nhựa polycarbonate, đồng hoặc nhôm…

Tuy chịu đựng được môi trường nước biển với nồng độ muối cao, cáp quang không chịu được nhiệt độ đến -80oC và môi trường đóng băng quanh năm, vì thế đến nay vẫn chưa có đường cáp quang nào kết nối khu vực Nam Cực.

Về cơ cấu hoạt động, cáp quang truyền dẫn tín hiệu dưới dạng xung ánh sáng do một diode phát sáng (LED) hoặc laser truyền vào, sau đó, cảm ứng quang ở đầu phát chuyển xung ánh sáng này ngược trở lại thành dữ liệu.

Cáp quang có nhiều ưu điểm như mỏng hơn cáp đồng, chỉ truyền tín hiệu ánh sáng nên nhanh, không bị nhiễu, khó bị can thiệp (như nghe trộm, đánh cắp tín hiệu… ), không cháy (do không có điện chạy qua cáp). Đặc biệt, độ suy giảm tín hiệu của cáp quang cực kì thấp và có dung lượng truyền tải cao (mỗi sợi cáp quang nhỏ hơn cáp đồng nên một bó cáp cùng kích thước có thể gồm nhiều sợi cáp hơn, và do đó truyền tải được nhiều kênh tín hiệu hơn). Chính nhờ những đặc điểm về cơ cấu hoạt động và đặc tính vật lí của mình, cáp quang ngày nay đã trở thành phương tiện kết nối thông tin trọng yếu xuyên lục địa trên toàn cầu (Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ,… khoảng cách về thông tin được rút ngắn chỉ tính bằng giây (s))

So sánh bản đồ cũ với bản đồ về con đường giao thương năm 1912 và bản đồ cáp quang dưới biển ngày nay giúp chúng ta hình dung mọi thứ đã phát triển như thế nào

Cáp quang AAG có tên đầy đủ là Asia - America Gateway, sự ra đời của nó là một cuộc cách mạng về kết nối băng thông rộng giữa Châu Á và Hoa Kỳ. Hiện tại đường truyền quốc tế, tốc độ Internet Việt Nam ra thế giới phụ thuộc chính vào tuyến cáp quang này.

Cáp quang AAG khá nổi tiếng với cộng đồng mạng tại Việt Nam vì thường xuyên bị đứt và ngừng hoạt động kể từ khi được đưa vào sử dụng năm 2009. Đa phần những trục trặc xảy ra trong đoạn S1 tại vùng biển Việt Nam giữa Hong Kong và Singapo với chiều dài là 314 Km.

Trước năm 2009, Internet Việt Nam kết nối quốc tế hoàn toàn phụ thuộc vào hai tuyến cáp quang biển là T-V-H (Thailand-Vietnam-Hong Kong) và SMW3 (SEA-ME-WE 3) với lưu lượng khá thấp. TVH có lưu lượng thiết kế mỗi hướng chỉ 560Mbps, SMW3 lên đến 320Gbps, còn lại kết nối qua các tuyến cáp đất liền.

Cáp quang biển Việt Nam là gì?

Nếu ví hệ thống mạng Internet tại Việt Nam là một ngôi nhà thì các tuyến cáp quang biển Việt Nam chính là "cửa ngõ" để chúng ta kết nối với thế giới liên tục 24/24.


Bóng đèn led 1m2 Bóng đèn led tuýp duhal được sử dụng rộng rãi như có thể, Bóng đèn tuýp led duhal với kích thước chuẩn 0,6m, hay 1m2 thiết kế theo kiểu T8, hay T5, phù hợp thay thế các loại bóng đèn huỳnh quang truyền thống

- Phone: +84-908-744-256